Thống kê truy cập
Đang online: 18
Hôm nay: 391
Trong tuần: 5132
Trong tháng: 16609
Tổng truy cập: 2246624

Lâm Đồng thúc đẩy liên kết chuỗi nguyên liệu hải sản phục vụ chế biến, xuất khẩu

Thứ Ba 06/10/2026 16:21 
211

Ngày 30/9/2026, tại Văn phòng Ban Quản lý các Cảng cá tỉnh, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị phát triển liên kết chuỗi cung ứng nguyên liệu hải sản khai thác phục vụ chế biến, xuất khẩu. Ông Nguyễn Văn Chiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, chủ trì Hội nghị. Hội nghị tập trung đánh giá kết quả, nhận diện khó khăn và định hướng tổ chức nguồn nguyên liệu hợp pháp, có khả năng truy xuất nguồn gốc, gắn với nhu cầu chế biến và thị trường xuất khẩu.

Kết quả và điều kiện phát triển liên kết chuỗi

Phát triển liên kết chuỗi cung ứng nguyên liệu hải sản là yêu cầu thiết thực nhằm kết nối hoạt động khai thác với thu mua, bảo quản, chế biến và tiêu thụ. Khi thị trường ngày càng chú trọng chất lượng, an toàn thực phẩm và tính hợp pháp của nguyên liệu, việc tổ chức nguồn cung cần gắn với kiểm soát thông tin xuyên suốt từng chuyến biển, từng lô hàng.

Lâm Đồng có nền tảng để phát triển các chuỗi cung ứng với hệ thống tàu cá, cảng cá, cơ sở thu mua và doanh nghiệp chế biến. Toàn tỉnh hiện có 8.210 tàu cá; sản lượng khai thác năm 2025 đạt 252.550 tấn. Hệ thống sơ chế, chế biến gồm 227 cơ sở, với các nhóm sản phẩm chủ yếu là thủy sản đông lạnh, thủy sản khô, nước mắm và đồ hộp. Trong lĩnh vực chế biến xuất khẩu, tỉnh có 26 doanh nghiệp với 34 phân xưởng.

Hoạt động khai thác, chế biến và xuất khẩu tiếp tục được duy trì. Lũy kế 8 tháng đầu năm 2026, sản lượng khai thác thủy sản đạt 170.372,4 tấn, tăng 3,84% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng, sản lượng thủy sản chế biến ước đạt 30.856 tấn, tăng 6,83%; kim ngạch xuất khẩu đạt 153,39 triệu USD. Các thị trường xuất khẩu gồm Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Trung Đông, EU và một số thị trường khác.

Hệ thống cảng cá góp phần tiếp nhận nguyên liệu, cung ứng dịch vụ hậu cần và kiểm soát nguồn gốc. Tỉnh có 5 cảng cá được đưa vào khai thác, sử dụng. Trong 8 tháng đầu năm 2026, các cảng tiếp nhận 26.665 lượt tàu cá cập cảng và giám sát 46.884 tấn thủy hải sản bốc dỡ.

Năng lực khai thác, chế biến cùng nhu cầu thu mua của doanh nghiệp là những điều kiện thuận lợi để phát triển liên kết. Cảng cá, cơ sở thu mua và các tổ chức sản xuất có thể tham gia kết nối nguồn cung với thị trường. Việc tổ chức hiệu quả các mắt xích này sẽ tạo điều kiện nâng cao chất lượng nguyên liệu và giá trị sản phẩm thủy sản.

Những khó khăn cần tháo gỡ

Mặc dù có nguồn nguyên liệu và hệ thống chế biến, liên kết giữa các chủ thể vẫn chưa ổn định. Nguồn nguyên liệu phục vụ xuất khẩu có đầy đủ hồ sơ truy xuất còn hạn chế. Thông tin từ tàu cá qua cơ sở thu mua đến doanh nghiệp chưa được kết nối đồng bộ, ảnh hưởng đến khả năng chứng minh nguồn gốc từng lô hàng.

Hoạt động thu mua chủ yếu được thực hiện qua các đầu mối trung gian. Khi nguyên liệu được tập hợp từ nhiều tàu cá và chuyển qua nhiều cơ sở, việc phân loại, lưu giữ hồ sơ và chuyển giao dữ liệu càng cần được quản lý chặt chẽ. Một số tàu đã kết nối với doanh nghiệp nhưng chưa duy trì đầy đủ thông tin, chứng từ. Việc bổ sung nguyên liệu qua các đầu mối khác làm tăng nguy cơ đứt gãy dữ liệu truy xuất.

Sản lượng khai thác biến động theo mùa vụ, ngư trường, thời tiết, đối tượng khai thác và thời gian chuyến biển. Giá nhiên liệu tác động đến số chuyến và khả năng duy trì hoạt động của tàu cá. Những yếu tố này khiến doanh nghiệp khó chủ động nguyên liệu về chủng loại, số lượng và thời điểm tiếp nhận.

Chất lượng hải sản còn phụ thuộc phương pháp khai thác và điều kiện bảo quản sau thu hoạch. Chi phí logistics, kho lạnh, kiểm soát chất lượng và chứng nhận biến động, trong khi lợi ích kinh tế từ việc thực hiện đầy đủ hồ sơ truy xuất chưa được phân bổ rõ giữa doanh nghiệp, tàu cá và cơ sở thu mua. Đây là trở ngại đối với việc duy trì liên kết lâu dài.

Hạ tầng cảng cá cũng còn những khó khăn. Luồng ra vào và vùng nước trước bến tại một số cảng bị bồi lắng, ảnh hưởng đến khả năng cập cảng an toàn. Một số tàu phải chờ thủy triều hoặc chuyển tải bằng phương tiện nhỏ, làm tăng thời gian, chi phí bốc dỡ và gây khó khăn cho giám sát sản lượng.

Bên cạnh đó, một bộ phận ngư dân còn hạn chế kỹ năng sử dụng công nghệ, chưa thuận lợi trong khai báo điện tử và cập nhật thông tin đúng thời điểm. Năng lực quản trị của một số hợp tác xã, tổ chức nghề cá cần tiếp tục được nâng cao để đáp ứng yêu cầu điều phối nguồn cung, quản lý dữ liệu và kết nối thị trường.

Tổ chức nguồn cung phù hợp với đặc thù khai thác

Tại Hội nghị, ông Nguyễn Văn Chiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, nhấn mạnh định hướng xây dựng chuỗi nguồn cung mở có kiểm soát, lấy nhu cầu thực tế của doanh nghiệp làm điểm xuất phát. Việc liên kết cần phù hợp với đặc thù khai thác hải sản, đồng thời gắn với lợi ích và trách nhiệm của các chủ thể tham gia.

Doanh nghiệp cần xác định rõ loài, quy cách, thời gian thu mua, sản lượng dự kiến và yêu cầu hồ sơ của từng thị trường. Trên cơ sở đó, các bên phối hợp rà soát nhóm tàu, cơ sở thu mua và khu vực cảng cá có khả năng đáp ứng. Nguồn cung được tổ chức với quy mô phù hợp để dự phòng biến động sản lượng.

Đối với tàu cá, việc tham gia chuỗi gắn với tuân thủ quy định khai thác, ghi nhật ký và cung cấp thông tin trung thực. Không đặt ra cam kết cứng nhắc về sản lượng cố định cho từng chuyến biển. Nguyên liệu được kiểm soát trên cơ sở sản lượng thực tế và hồ sơ của từng chuyến, từng lô hàng.

Cơ sở thu mua, đại lý là mắt xích chính thức trong chuỗi, có trách nhiệm quản lý thông tin từng lần thu mua, phân loại nguyên liệu, lưu giữ hồ sơ và chuyển giao dữ liệu đầy đủ cho doanh nghiệp. Nguyên liệu cần được phân tách theo nguồn gốc và tình trạng hồ sơ để duy trì khả năng truy xuất trong quá trình tập hợp, vận chuyển và chế biến.

Cảng cá tiếp tục phát huy vai trò kiểm soát, xác nhận và kết nối thông tin về tàu cá, thời gian cập cảng, chủng loại và sản lượng bốc dỡ. Doanh nghiệp tổ chức tiếp nhận, mã hóa, quản lý từng lô nguyên liệu và hoàn thiện hồ sơ phục vụ xuất khẩu.

Hiệu quả liên kết cần được đánh giá bằng sản lượng thực tế có hồ sơ đầy đủ, khả năng truy xuất và mức độ đáp ứng nhu cầu sản xuất. Cơ chế giá thu mua, lợi ích và trách nhiệm giữa các bên được thỏa thuận rõ ràng, tạo động lực để chủ tàu, cơ sở thu mua và doanh nghiệp duy trì hợp tác.

Nâng cao chất lượng và điều kiện vận hành chuỗi

Nâng cao chất lượng nguyên liệu cần được thực hiện từ khâu khai thác và bảo quản sau thu hoạch. Hoạt động hướng dẫn kỹ thuật, tập huấn hồ sơ và quản lý chất lượng phải gắn với nhu cầu cụ thể của từng chuỗi. Đây là điều kiện để hỗ trợ chế biến, nâng cao giá trị sản phẩm và đáp ứng yêu cầu thị trường.

Chuyển đổi số cần tập trung vào kết nối dữ liệu giữa tàu cá, cảng cá, cơ sở thu mua và doanh nghiệp. Việc liên thông thông tin giám sát hành trình, nhật ký khai thác và sản lượng bốc dỡ giúp kiểm tra nguồn gốc thuận lợi hơn. Hướng dẫn trực tiếp cho ngư dân, nhất là người còn hạn chế kỹ năng công nghệ, cần được duy trì.

Đối với hạ tầng, cần rà soát những vướng mắc về luồng lạch, điều kiện tiếp nhận tàu và an toàn thực phẩm tại cảng cá. Các nội dung bảo quản lạnh, sơ chế, thiết bị và quản lý chất lượng cần được xem xét trong phương án xây dựng chuỗi, phù hợp điều kiện đầu tư và nhu cầu sử dụng.

Chính sách hỗ trợ liên kết cần được vận dụng đúng điều kiện, gắn với dự án và nguồn lực được phê duyệt. Những nội dung được quan tâm gồm tư vấn xây dựng liên kết, đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, truy xuất nguồn gốc, hạ tầng, thiết bị và phát triển thị trường. Đồng thời, tiếp tục rà soát, đề xuất cơ chế phù hợp với đặc thù hải sản khai thác và vai trò tổ chức sản xuất của hợp tác xã, các tổ chức nghề cá.

Kết nối và triển khai các chuỗi trong thời gian tới

Sau Hội nghị, Chi cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường tiếp tục phối hợp tổng hợp nhu cầu doanh nghiệp, phân loại theo sản phẩm, nguyên liệu, thị trường và khu vực thu mua. Trên cơ sở đó, xác định các doanh nghiệp, nhóm nguồn nguyên liệu có điều kiện để tham mưu lựa chọn những chuỗi ưu tiên triển khai trong năm 2026–2027.

Chi cục Thủy sản và Biển đảo, Ban Quản lý các Cảng cá tỉnh cùng các đơn vị liên quan phối hợp rà soát nguồn tàu, thông tin cập cảng, sản lượng và điều kiện truy xuất. Các địa phương ven biển, cơ sở thu mua và tổ chức sản xuất cung cấp thông tin thực tế, tham gia xây dựng phương án phù hợp với từng địa bàn.

Hướng triển khai là lựa chọn một số chuỗi có điều kiện để thực hiện trước, theo dõi kết quả, kịp thời tháo gỡ khó khăn và từng bước nhân rộng. Quá trình đánh giá tập trung vào khả năng cung ứng nguyên liệu, chất lượng hồ sơ, mức độ đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp và sự duy trì liên kết giữa các bên.

Hội nghị tạo cơ sở tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các chủ thể trong chuỗi. Với vai trò hướng dẫn, kết nối và hỗ trợ, ngành Nông nghiệp tiếp tục thúc đẩy nguồn cung hợp pháp, minh bạch, gắn khai thác với chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu; góp phần nâng cao giá trị thủy sản, khả năng cạnh tranh và phát triển chuỗi bền vững.

Nguyễn Đức Ý